Vũ Thị Bích – PCT1963 (CGS Toán Trường TH Pleiku)

Những lúc hào hứng, tôi thường đọc to một đoạn ngắn trong “Le Cid” của Pierre Corneille, mà thầy Trần Tấn thường đọc cho chúng tôi nghe. Tôi hào hứng vì nhớ lại âm điệu của thầy tôi.
 
                         Rodrigue, as-tu du coeur?
                        Tout autre que mon père,
                         L’ e’prouverait sur l’ heure!
 
   (Don Dieque:   Rodrigue, have you any courage?
   Don Rodrigue: If you weren’t my father,
                         you would have a taste of it on the spot.)


Hàng đầu, người thứ 5, đếm từ phải sang, mang gương cận thị dày cộm: Thầy Trần Tấn 

Tôi còn nhớ ngày xưa, thầy Trần Tấn, tuy lúc ấy đã già, dáng đi không còn mạnh mẽ, mà còng xuống trên cuốn sách ôm trước ngực, nhưng mỗi lần đọc thơ cổ của Pháp, giọng thầy vẫn hùng hồn biết bao! Thầy như yêu cái hào hùng của những hiệp sĩ xa xưa ấy, và khi thầy đọc thơ, thầy như nhập vai của họ. Ðôi kính cận thật dày, không cho tôi nhìn rõ mắt thấy, nhưng nụ cười hiền lành luôn nở trên đôi môi dày. Nói về cái kính cận của thầy, tôi phải kể lại một giai thoại. Một hôm, bạn tôi không thuộc bài, chúng tôi để cuốn tập có chép bài thơ ấy, ở dãy bàn phía trước. Bạn tôi nhón người, nhìn vào cuốn tập mà đọc, giọng rõ ràng và hùng hồn. Thầy tỏ ra rất xúc động, và nói, “Très bien!”. Ðã có biết bao học sinh đã được hưởng những con số 10 oan uổng đó! Thầy tôi điềm đạm lắm, thầy coi học trò như con cái. Có lần, chúng tôi về thăm thầy ở Vĩnh Ðiện. Nhà thầy hình như ở một ngã ba, nhà ở trên cao, so với mặt đường. Thầy có cô con gái rất dịu dàng và rất kính yêu cha của mình. Tôi vẫn nhớ mãi những năm tháng được học với thầy.
 
Cô Bội Hoàn, cũng dạy Pháp văn. Cô rất xinh đẹp và khá nghiêm khắc. Vẻ đẹp như khắc từng nét trên khuôn mặt, đã khiến một cậu học trò phải thốt lên, “Tao đi học môn nầy, vì có cô Bội Hoàn đẹp quá!”. Và hình như đâu đó những đôi mắt ngưỡng mộ của các … “người lớn tuổi”!

 ghi chú (1): Cô Bội Hoàn

Thầy Trần Ðại Tăng, dạy Toán, thầy có mái tóc dài và mỏng, thầy luôn lấy tay hất ngược mái tóc ra sau. Hình như tóc thầy chải ngược lại với hướng chải tóc của nhiều người? Thầy dạy toán rất hăng, thầy giảng rõ ràng và cho bài tập thật nhiều!!! Thầy hay đi đi lại lại trong lớp, xem xét sự học tập của đám học trò. Thầy xưng hô với học trò bằng hai tiếng thân mật “Mi, Tau”, dù học trò là trai hay gái. Ðứa nào cũng ngán thầy lắm, vì thầy chẳng nhân nhượng bao giờ, mỗi lỗi lầm đều được xử công khai, rõ ràng, và rộn rã trong lớp. Cứ tưởng thầy sẽ kết duyên với một bà giáo khó tính nào chứ, ai ngờ, thầy lại xe duyên với một người đẹp của Phan Châu Trinh. Hình như, lúc ấy Quý Phẩm mới vừa học xong lớp 11 thì phải? Mối tình của thầy đã làm nhiều nam sinh ngỡ ngàng, ngơ ngẩn. Trong số ấy, có ông anh tôi. Anh tôi, cũng như tôi, rất quý mến thầy, vì thầy giỏi và công bằng. Những vẻ đẹp nhẹ nhàng của Quý Phẩm cũng làm cho anh tôi xao xuyến, nên nỗi buồn ấy là điều tất yếu thôi! Dù sao, thì “tình câm” làm sao bằng tình biết nói!

(Quý Phẩm) 

Thầy tôi vốn là thi sĩ nữa cơ mà! Thời ấy, các cụ gả con gái cho thầy giáo nhiều ghê đi! Có lẽ, các cụ sợ gả cho đám thanh niên mới lớn, lỡ sau đi trận, biết có ngày về hay không?

 


 Thầy Bùi Tấn, dạy Toán. Thầy chừng mực trong từng cử chỉ. Thầy luôn ăn mặc gọn gàng, tươm tất. Thầy viết từng chữ nắn nót trên bảng. Thầy vẽ những bài toán hình học với thước kẻ cẩn thận. Tất cả những gì thầy làm đều thứ tự, nhịp nhàng, và rõ ràng cả. Tôi còn nhớ và âm thanh ấy còn vang mãi, “Tam giác DOE…”, chúng tôi thường nghịch ngợm gọi là, “Tam giác De-O-E”.

 (Thầy Bùi Tấn, dạy Toán)

Thầy Thiện, dạy Toán, thầy trông rắn rỏi với nước da xạm màu, áo trắng quần xanh. Tóc thầy chải gọn ghẻ. Thầy rất nghiêm túc, tế nhị, và chăm chỉ dạy dỗ đám học trò tinh nghịch. Có một hôm, tôi ngồi lại trong lớp để ôn bài, không ra chơi cùng các bạn. Thật ra, vì trong lớp chỉ có mình tôi là con gái! Các bạn mua vào cho tôi một gói bánh tiêu, đặt ngay trên hai trang giấy đang mở! Tiếng kẻng vào lớp đã vang lên từ lâu, nhưng lớp tôi ở khá xa phòng nghỉ ngơi của thầy cô, nên tôi vẫn nhẫn nha cắn từng miếng một. Chợt thầy bất thần xuất hiện trên thềm lớp. Tôi vội vàng gấp tập lại, nhét vội quyển tập vào hộc bàn! Khó một nổi, tên tôi bắt đầu bằng vần B, lúc nào cũng chực chờ tai họa! Ngọn bút lười biếng của thầy không chịu đi xa, dừng ngay ở mấy hàng đầu! “Chị Bích lên trả bài!”. Như vừa nghe một bản án, tôi sửng sờ, bối rối, “Làm sao đây”? Dầu mỡ bánh tiêu đã loang đầy hai trang vở, ngay cái bài mà tôi phải lên trả bây giờ đây! Lùa vội mấy cái bánh tiêu ra, tôi cầm tập đi lên. Tôi gấp quyển tập lại, hy vọng thầy không mở ra, mà chỉ hỏi và cho điểm trong sổ lớp. Nhưng thầy lại là một ông giáo quá chu đáo, thầy muốn biết cả cách trình bày của tôi và cho điểm trong tập học trò nữa! Nhìn những trang giấy loang lổ dầu mỡ, thầy hỏi, “Chị Bích, sao tập vở thế nầy?”. Tôi ấp úng, “Dạ thưa thầy, em học bằng đèn dầu, lỡ tay làm đổ dầu ra!”. Thầy ái ngại, “Ồ!”… Chắc lòng thầy đang rưng rưng xót thương đứa học trò nghèo khổ và tôi thì cố nín cười, để đóng nốt “màn nói dối”. Chợt một giọng nói to, vang lên từ cuối lớp của một  bạn trai nào đó, “Dạ, dạ thưa thầy, đèn dầu …, đèn dầu bánh tiêu ạ”. Thầy chợt hiểu và nhìn tôi trách móc, vì đã lừa dối thầy. Tôi cúi mặt, không thể nói được lời nào. Thật lòng, tôi chỉ muốn chạy bay xuống cuối lớp, để “bịch” cho anh chàng “giết người không gươm” ấy!
 
Cô Kim Ðính, dạy Vạn Vật. Cô người Huế với giọng nói nhỏ nhẹ. Cô xinh xinh và ăn mặc rất đẹp. Tất cả ở cô có vẻ đài các và đoan trang. Với giọng Huế, cô còn để lại trong chúng tôi âm vang của lời giảng về “anbuminoit”. Khi cô nói tiếng ấy, nghe rất lạ, rất đặc biệt, và tôi không thể quên được. Cô vẽ rất dễ dàng, nên chúng tôi thuộc bài của cô thật mau. Chúng tôi vẫn thường để ý xem có ai đó theo cô vào những lúc tan trường không? Nhưng có lẽ vì cô rất nghiêm, nên tôi không thấy thầy nào đi theo cô cả!


(Cô Kim Ðính)

 
Tất cả các thầy cô đều để lại chút gì đó trong cuộc đời của học sinh chúng ta. Với tôi, suốt 40 năm làm cô giáo, tôi đã dạy môn Toán với nhiều ảnh hưởng của các thầy cô đã dạy tôi. Mỗi thầy cô cho tôi một phương pháp giảng dạy riêng và tôi đã áp dụng các điều đã học, để dạy lại học trò tôi.
 
Còn biết bao điều muốn nói về các thầy cô cũ và mái trường xưa. Nhưng thời gian và cuộc đời dâu bể đã làm mòn trí nhớ. Ðể đến khi nào, tâm tư lắng đọng, chắc chúng ta sẽ có nhiều chuyện để kể về “Thầy Cũ Trường Xưa”.
 
Tôi còn nhớ, quanh trường tiếng rao, “Kẹo gừng đây, kẹo gừng đây!” luôn luôn quyến rũ tôi. Tôi thường xin phép ra ngoài, để vội vã chạy về phía hàng rào kẽm gai, phía sau trường, cao giọng réo gọi, “Kẹo gừng!”. Rồi mang vào lớp. Luồn tay vào dưới gầm bàn, chia nhau từng cục kẹo cứng, dòn, và cay cay ấy! Ở khoảng trống, giữa dãy phòng chính và hai tầng lầu mới xây, hồi đó, là những sợi dây thừng được treo trên xà ngang, tôi thường ra đó, để leo như một con khỉ nhỏ!
 
Trong tôi đẹp nhất về mùa hè, phượng đỏ nở chung quanh trường làm cho không gian như rực rỡ lên. Có lẽ lúc ấy chúng tôi còn thấy lòng rộn rã hơn, vì những tháng rong chơi đầy hứa hẹn đang chờ đón lũ học trò. Thật ra, thì mùa nào cũng đẹp cả, nhất là đối với các học sinh lớp cuối cấp. Trường chúng tôi ở giữa mấy trường cơ, không kể trường Nam Tiểu Học ở trước mặt. Còn trường Bán Công trên con đường vuông góc với Phan Châu Trinh, trường nầy có nhiều nữ sinh đẹp lắm. Bên phải là trường Phan Thanh Giản với mấy tầng cao, mà đứng trên ấy có thể ném thư tình xuống sân trường chúng tôi. Biết đâu, đã có biết bao mối tình “liên trường” ra đời từ đó!

(Trường Phan Thanh Giản với mấy tầng cao, mà đứng trên ấy có thể ném thư tình xuống sân trường chúng tôi.)

Bao nhiêu rộn rã cùa tuổi mộng mơ, tràn ngập trong trái tim xao động thời mới lớn, tuôn ra qua ánh mắt, qua lời thơ, đã khiến vùng trời ấy lộng lẫy hơn, đáng nhớ hơn, và mãi đậm nét trong tâm tư để làm hành trang cho mỗi chúng ta, để an ủi chúng ta những lúc đường đời quá gập ghềnh cay đắng!
 
Vũ Thị Bích