Con gái ở Connecticut. Vừa có thẻ xanh, đã hớn hở email về: “Mẹ chuẩn bị, ba năm sau qua ở với con.” Tôi không muốn chút nào. Bà chị dâu nói: “Người ta nói Mỹ là thiên đường, sao O không thích?” Tôi cười: “Thiên đường gì mà một năm tuyết phủ hết sáu bảy tháng, đất trời trắng xóa, lạnh lẽo trăm bề, chịu chi nổi.”

Mấy cô bạn vịt điên (Canadien) gọi điện về, ríu ra ríu rít, tưởng tôi sắp qua đến nơi. Và lúc nào tôi cũng thở dài: “Chắc mình không đi đâu. Sợ lạnh lắm.” “Đừng sợ, chỉ cần mặc đủ ấm, thì dù nhiệt độ xuống không, hay âm mấy chăng nữa, cũng vậy thôi. Lâu rồi sẽ quen.”

Nói nghe lạc quan quá. Nhưng các bạn yêu quí của tôi đã quên rằng, hồi tháng tư năm bảy lăm, khi đất trời đảo lộn, đang sống yên lành bỗng dưng muốn… di tản, các bạn ra đi khi tuổi đời mới trên dưới ba mươi, tóc còn xanh, mắt còn sáng, trái tim còn tràn đầy nhiệt huyết, dễ dàng thích ứng với mọi hoàn cảnh. Cho dù nơi ở mới cuộc sống có nhọc nhằn, khí hậu có khắc nghiệt đến đâu, các bạn cũng dễ dàng vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn. Còn tôi bây giờ – một lão bà răng long đầu bạc, xương cốt rã rời còn hơi sức nào đương đầu với mưa bão tuyết rơi! Chút hơi tàn xin giữ lại. Quyết định không đi.

Lại nghe cô này dụ: “Ở đây bồ sẽ không buồn đâu vì qua mùa tuyết, đất trời như thay áo mới, hoa nở khắp nơi, trái chín trĩu cành… tha hồ cho “thi sĩ” làm thơ”, cô kia rủ: “Bạn đã bao giờ đi dạo trên những ngọn lá phong vàng trong công viên mùa thu chưa? Thơ mộng vô cùng… em không nghe rừng thu, lá thu kêu xào xạc, con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô…”Vô ích thôi, “tâm hồn nghệ sĩ” của tôi đóng băng mất rồi.

Ông bạn ở Chicago gọi về: “Bà ngoại suy nghĩ lại đi. Qua đây không lo bệnh hoạn. Người già được chăm sóc kỹ lưỡng lắm.” Tôi từng tuổi này, qua Mỹ cũng để chờ chết thôi, sợ gì đau yếu, chỉ sợ cứ run rẩy vật vờ vì lạnh mà không chết nổi, mới khổ.

Vào một ngày đẹp trời, tôi nhận được tin mới, gia đình con gái đang xin chuyển xuống phía Nam. Một chút ánh sáng cuối đường hầm! Có hy vọng không? Tôi thầm hỏi và tự trả lời khi nhớ đến câu chuyện thần thoại đã đọc hồi còn bé “Chiếc hộp và Pandora”. Chuyện kể rằng, ngày xưa, thần Định Mệnh đã nhốt tất cả mọi nhọc nhằn đau khổ (gọi tên chung là Quấy Nhiễu) vào một chiếc hộp kín cho loài người được sống yên vui hạnh phúc. Một ngày nọ, vì tò mò, cô bé Pandora đã mở nắp, thế là lũ Quấy Nhiễu được giải thoát, châm chích cô bé và đi gieo tai họa khắp nơi. Bỗng dưới đáy hộp, một nữ thần đẹp như tia nắng bay ra hôn lên trán cô bé, tức thì mọi nỗi đau đớn biến mất. “Xin cho cháu biết Bà là ai?” “Ta là thần Hy Vọng được đặt vào hộp để giúp loài người chịu đựng mọi nỗi đau. Ta có thể  làm cho những giọt nước mắt cũng đẹp như những nụ cười.” Ánh sáng của Hy Vọng không bao giờ tắt cho đến tận ngày nay.

Chúng ta sẽ sống ra sao nếu không có Hy Vọng? Nghe tin, bạn bè lại xúm vào bàn tán. “Nếu về được Cali thì tốt, khí hậu giống như Đà Lạt.” “Bộ Đà Lạt không lạnh sao?” “Thôi đừng được voi đòi khủng long nữa.” “Nói chơi thôi, chỉ sợ ở đó nhà cửa mắc, đời sống đắt đỏ…” “Lo gì, đó là chuyện của bọn trẻ. Mà nói thiệt, cô con gái có hiếu ghê nghe.” Biết đây chỉ là nhu cầu công việc của các con, nhưng nghe câu nói tốt cũng ấm lòng. Càng ấm hơn nữa khi chẳng bao lâu, thần Hy Vọng đã hôn lên trán tôi: Gia đình con gái sắp dọn về Houston, bang Texas, một nơi không lạnh, không nóng, mà là… rất nóng. Cô học trò đi Mỹ về, nói: “Em có xuống Houston, nóng khủng khiếp cô ơi. Người ta nói mùa hè ở đó có thể làm món trứng ốp la trên lề đường.” Một em khác, cư dân Houston thì email về: “Cô yên tâm. Ở đây chỉ nóng vài tháng thôi.” Dĩ nhiên là tôi rất yên tâm, nắng nóng Sài Gòn tôi còn chịu được thì sợ gì nữa. Vậy là tôi quyết định trong tíc tắc. Đi.

 Học trò xúm lại chúc mừng. Bạn bè cũng chia vui. Riêng nhỏ bạn thân viết một bút ký, ý là: “Biệt ly, nhớ nhung từ đây, chiếc lá rơi theo heo may, người về có hay…”  Tôi nói sao bi quan vậy, chúng mình vẫn còn nhiều buổi cà phê cà pháo, họp mặt vui chơi mà. Mau lắm cũng cuối năm sau.                                          

                                       

Tác giả &  cháu ngoại

Vậy mà bây giờ tôi đã qua đây, một xứ sở xa xôi, một không gian lạ lẫm và thời gian thì cứ từng bước… từng bước thầm. Nơi tôi ở là một khu cư xá khang trang đẹp đẽ với những ngôi nhà diện tích không hẳn bằng nhau, nhưng kiến trúc cùng kiểu, mái ngói xám, tường gạch hồng, sân trước, vườn sau, ga ra mặt tiền, như những tam giác đồng dạng, nếu không có bảng ghi số, rất khó phân biệt khi muốn tìm nhà.

Cảm giác đầu tiên của tôi là sự tĩnh lặng. Những con đường vắng vẻ, những bãi cỏ xanh rì, những hàng cây đổ bóng, những thùng thư mỗi đầu ngã ba… công viên với những xích đu, bập bênh, hồ tắm… không một bóng trẻ, chỉ có nắng và gió cùng nỗi nhớ miên man trĩu nặng bên lòng.

Chuông điện thoại reo. Tôi hồi hộp bắt máy, sợ nghe một tràng tiếng Mỹ thì khó đỡ, nào ngờ: “Ái? Phải Ái không?” “Ừ, đúng rồi… Ai rứa?” “Long đây. Vũ Văn Long đệ nhất A Phan Châu Trinh nè.” Tôi lặng người. Gần nửa thế kỷ mới nghe lại giọng nói của anh bạn đàn giỏi hát hay ngày xưa! “A lô… a lô… Ái còn đó không? Sao im re vậy?” “Tại… tại đang ngạc nhiên… ủa mà sao Long biết…” “Trời đất, bộ chưa vào mạng sao? Bạn bè đang Welcome Ái đó.” Sực nhớ trang Web Phan Châu Trinh Đà Nẵng bị bức tường lửa ở VN chận lại từ lâu lắm rồi, nên tôi không còn thói quen dạo chơi và gửi bài đến nữa. “Thiệt hả? Cám ơn Long và các bạn nghe. Sao? Long vẫn khỏe chứ? Nhớ Long hồi xưa hát bài Tôi Đưa Em Sang Sông hay lắm, bây giờ còn hát không?” “Hết hơi rồi, hát hò chi nữa.” “Vậy Long bây giờ ở đâu?” “Ở gần Ái nè.” “Đừng giỡn nghe, đừng làm tui mừng hụt đó.” “Thì cứ nói địa chỉ đi, cuối tuần này Long sẽ đến thăm”

  

Tác giả & Vũ Văn Long (PCT64)

Reng… reng… vừa để máy xuống, điện thoại reo liên tục, chắc bạn bè khắp nơi đã biết tin… reng… reng… reng… sau lời hỏi thăm là cuộc hẹn hò cùng rủ nhau về Dallas thăm chùa của thầy Tịnh Đức.

Thầy Tịnh Đức tên đời thường là Tôn Thất Toản, học cùng chúng tôi từ đệ lục đến đệ nhất (năm đệ thất nam nữ học riêng). Không biết Toản đi tu từ lúc nào, nhưng khi tôi gặp lại Toản về Việt Nam cứu trợ nạn nhân bão lụt vào đầu năm hai ngàn, Toản đã khoác áo Đại Đức, chủ trì một ngôi chùa lớn ở Dallas. Lần đầu tiên họp mặt tại nhà Kim Hài, chỉ vài người bạn nhưng rất vui. Toản vẫn như ngày xưa, vui vẻ, cởi mở, nhắc lại nhiều kỷ niệm hồi đi học và hỏi thăm những bạn còn ở Đà Nẵng như Yến Loan, Kim Oanh, Tuyết Nhung, Như Hảo… bạn bè chọc: “Thầy ơi, sao thầy hỏi thăm toàn con gái không vậy?” Toản không trả lời được, chỉ biết cười, nhưng vẫn tiếp tục nhắc đến mỹ danh của những người đẹp của năm mươi năm về trước như Bảo Hòa, Bích Lan, Thu Hồng, Phương Huệ… có nhiều tên tôi còn không nhớ là ai.

(Thầy Tịnh Đức)

Từ đó, cứ vài năm, Toản về một lần cùng nhiều đệ tử, đi suốt chiều dài đất nước với mục đích từ thiện, vẫn phong thái đàng hoàng mẫu mực, chân tình với bạn bè. Cách đây vài năm, người đệ tử tháp tùng Toản là cô ca sĩ Phương Dung, chúng tôi được dịp nghe lại giọng hát mượt mà của con nhạn trắng đất Gò Công năm xưa qua bài “Đố ai?” của Phạm Duy… Đố ai nằm ngủ không mơ, biết em nằm ngủ hay mơ, nửa đêm trăng xuống, đứng chờ ngoài hiên, nửa đêm anh đến, bến bờ yêu đương… Đố ai tìm được tim ai, biết em tìm được tim tôi…”

Dạo tôi sắp đi, Toản gọi điện về: “Gắng qua đây mau mau, lên Dallas dự lễ Phật Đản nghe. Có Khánh Hà từ Cali xuống hát, vui lắm.” Tôi không qua kịp, đành thất hẹn. Nay định gọi điện thì Toản đã gọi trước: “Chúc mừng hí. Nhớ lên Dallas dự lễ Vu Lan nghe. Có ca sĩ Thanh Thúy nữa, lần này chùa tổ chức lớn lắm.”

Vào thăm lại trang Web xưa, không gặp trở ngại gì, lòng vui vui khi thấy những hàng chữ chúc mừng thật trang trọng, cả địa chỉ email trên đó, hèn gì, khi check mail thấy chưa bao giờ hộp thư của mình lại quá tải đến như vậy. Có bạn cùng lớp, có bạn không, nhưng cùng chung gia đình Phan Châu Trinh cả.

Reng… reng… Người bạn trong ban điều hành trang WebPCT cười trong máy: “Bà ngoại ơi, thấy gì chưa?”

Nỗi nhớ bỗng nhẹ tênh. 

Houston  28 tháng 9/ 2011

Thùy An