VIẾT VỀ MỘT NGƯỜI BẠN ĐỒNG NGHIỆP ĐÃ YÊN GIẤC NGÀN THU: Chị NGÔ THỊ NHƯ HÀ


Chị Ngô Thị Như Hà và tôi cùng học ở Quốc Học, Huế.  Ngày chung trường, tuy biết nhau nhưng chị và tôi không quen vì chị theo ban Văn chương, ban C, còn tôi học Toán, ban B.
Đỗ Tú tài II xong, năm 1957, chị Như Hà vào dạy Phan Châu Trinh. Lúc đó tôi đang còn ở Đại Học Sư Phạm Huế, và dạy Toán cho trường Bình Minh , trường Mê Linh. Sau khi tốt nghiệp, tôi được sự vụ lệnh bổ nhiệm vào Đà Nẵng, dạy cùng trường với chị trong những năm từ 1960 đến 1963. Và từ ngày là đồng nghiệp, chị Như Hà và tôi mới quen nhau.

Chị dạy Việt văn cho các lớp đệ thất, lục và ngũ. Phần tôi, năm đầu mới vào Phan Châu Trinh, mặc dù tôi chuyên dạy Toán, nhưng trường thiếu Giáo Sư môn Việt văn, ông Hiệu Trưởng thời đó là Thầy Nguyễn Đăng Ngọc phân phối tôi dạy Việt văn lớp Đệ lục 2 và dạy môn Toán cho các lớp khác.
Vì cùng dạy Việt văn lớp Đệ lục, nên chị Như Hà và tôi thường có giờ dạy những lớp gần nhau. Trong giờ học trò ra chơi, mỗi khi không xuống phòng Giáo Sư ngồi, chị và tôi thỉnh thoảng đứng ở hành lang nói chuyện. Chương trình Việt văn ngày đó mỗi lớp có một giờ chữ Hán. Chúng tôi thường đem chuyện dạy Việt văn ra chuyện trò, tôi vốn không rành Hán tự và chị Như Hà ngày đó chắc cũng đã gặp khó khăn tương tự.

Ngoài giờ dạy chính thức ở Phan Châu Trinh, tôi được Linh Mục Lê văn A., lúc ấy là Cha chánh xứ Đà Nẵng đang làm Hiệu trưởng trường Sao Mai, mời dạy thêm môn Toán. Có lẽ Linh Mục mến tôi về năng khiếu dạy cũng như việc làm của tôi đối với trường, nên đã nhờ tôi lo mọi việc khác cho trường và nhờ dạy riêng môn Toán cho người cháu ruột của Cha là Lê văn Ch.
Tháng 8 năm 1963, tôi thuyên chuyển từ trường Phan Châu Trinh ra Đại Học Luật Khoa, Huế. Tuy nhiên, mỗi thứ sáu và thứ bảy, tôi vẫn vào dạy Toán cho trường Sao Mai Đà Nẵng.

Linh Mục Lê văn A. là bạn thân với Linh Mục Cao văn L., hai Cha cùng tu với nhau ở bên Pháp. Cha A. giới thiệu tôi với Cha L., nên Cha L. biết tôi từ đó.  Chị Như Hà là con đỡ đầu của Cha L., và cũng nhờ sự giao hữu giữa hai Linh Mục, mà chị Như Hà và tôi, từ tình đồng nghiệp trở thành hai người bạn thân. Hàng tuần, trước khi vào Đà Nẵng tôi ghé Linh Mục Cao văn L. xem có nhắn gởi gì cho Linh mục Lê văn A. và chị Như Hà không. Và cũng hàng tuần sau khi dạy học xong ở Sao Mai trở ra Huế tôi thường ghé nhà chị coi có nhờ gởi chi cho cha L. Thành thử tuy không còn dạy cùng trường nữa, nhưng chị Như Hà và tôi gần như tuần nào cũng gặp, vẫn giữ tình bạn cũ, có lẽ còn thân thiện hơn lúc dạy một trường.

Năm 1966, chị Như Hà xin đổi từ Phan Châu Trinh vào trường Quốc Gia Nghĩa Tử, tôi không có dịp gặp chị thường xuyên nữa.

Đến năm 1967, tôi được đổi vào bộ Giáo Dục, rồi được cử làm Trưởng Phòng Hành chánh Nha Học Bổng Du Học và thư ký Hội Đồng Du Học. Lúc này chị Như Hà đã thôi dạy và ra làm ở Công Ty Du Lịch đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, kế cận Nha Du Học, nơi tôi đang làm việc. Chị và tôi lại có dịp gặp nhau nhiều hơn để hàn huyên trong tình bạn thân cũ.

Ngày di chuyển từ Huế vào Sài Gòn (1967), gia đình tôi chỉ có hai bàn bàn tay trắng. Đến trạm hàng không đường Phạm Ngũ Lão chuyến bay lúc 1 giờ trưa cùng vợ và bốn con dại với hai ngưòi giúp việc mang theo, tôi chẳng biết đưa gia đình đến trú ngụ ở đâu. Cũng may có người bạn cùng làm việc với tôi ở Viện Đại Học Huế, thuyên chuyển vào Sài Gòn trước nhưng chưa đưa vợ con vào và lại được người quen giao cho trông nom căn nhà trong cái chợ nhỏ vùng Bùi Phát. Tôi liều đem cả gia đình xuống xin người bạn ở nhờ ít ngày, người bạn tôi vui vẻ nhận lời.

Tôi đi tìm nhà suốt mấy ngày sau đó, và kiếm được một căn nhà nhỏ ở đường Trương Minh Giảng, gần chùa Miên. Nhưng muốn thuê phải cần có một số tiền thế chân trước. Tôi chẳng có đủ, lương công chức tháng nào hết tháng đó ! Tôi phải đến gặp chị Như Hà, và chị đã vui vẻ cho tôi mượn. Chỉ trong vòng một tuần sau, khi lãnh được tiền, tôi  hoàn trả lại chị số tiền đã mượn. Tuy vậy một miếng khi đói, bằng gói khi no, tôi luôn luôn nhớ ơn chị, người bạn đã giúp tôi trong những ngày đầu vào ở Sài Gòn.

Về sau chị Như Hà thôi làm ở sở Du lịch và về Vũng Tàu mở trại chăn nuôi. Tôi vẫn tiếp tục công việc ở nha Du học. Đến khoảng năm 1968, Tổng Trưởng Giáo Dục ký giấy thuyên chuyển tôi về Huế. Đã lỡ đem cả gia đình vào Sài Gòn, tôi không nhận sự vụ lệnh và làm đơn xin từ dịch. Bộ Giáo Dục không chấp thuận, tôi đành phải bỏ việc, chấp nhận sự sa thải, ra ngoài kinh doanh. Nhưng rồi Bộ Giáo Dục cũng chẳng sa thải tôi, đến năm 1971, Ông Tổng trưởng khác lên, ký Nghị định cho tôi từ dịch.

Nhưng buổi đầu của bất cứ ngành kinh doanh nào, điều kiện tiên quyết là phải có tiền.

Cá nhân tôi sau khi bỏ việc ở Nha Du Học, gia sản vỏn vẹn chẳng là bao, lấy đâu mà nghĩ chuyện kinh doanh? Xin được một phần hùn trong công ty hút cát ở sông Đồng Nai cũng phải đóng trên một triệu. Người bạn giúp tôi bước đầu để tôi có thể lăn vào ngành kinh doanh cũng chính là chị Như Hà. Khi đã vào được Công Ty hút cát Đồng Nai, theo thế liên hoàn, tôi vào công ty thứ hai, và rồi công ty thứ ba. Cuối cùng tôi có phần hùn trong nhiều công ty như bảo hiểm, công ty gas điều chế oxy, acétylène, ngân hàng và nhà in.

Thời gian này chị Như Hà vướng vào một chuyện tình cảm ngang trái. Người chồng chị lãnh án treo. Từ Sài Gòn ra Huế, dư luận bấy giờ ai cũng nghĩ nhờ có Linh Mục Cao văn L. can thiệp, vì Cha là người có nhiều ảnh hưởng và có thế lực, và chị Như Hà là con đỡ đầu của Cha. Nhưng sự thực không phải vậy. Ai đã trực tiếp hay gián tiếp dàn xếp và giúp chồng chị có bản án nhẹ như thế, thiết tưởng chỉ có chị Như Hà là biết rõ. Hơn nữa nay chị đã mất, chúng ta không nên khơi lại tro tàn dĩ vãng, có tội với người đã khuất….

Khi  vụ án kết thúc, tôi đưa chị vào các công ty mà tôi tham gia. Nhường một số cổ phần cho chị, để trả hết số tiền mà chị đã tử tế cho mượn và cũng như để cám ơn người bạn đã giúp tôi bước đầu khi tôi vào kinh doanh. Công ty nào có tôi là có chị. Đặc biệt công ty bảo hiểm, tôi làm Giám đốc hành chánh thì chị Như Hà làm Trưởng phòng Giao tế.

Sau đó chị thôi bảo hiểm để mở Mỹ Viện, tôi cũng hết làm bảo hiểm ra tập sự Luật Sư. Dù không còn làm chung trong công ty bảo hiểm nữa, nhưng chị và tôi vẫn giữ tình thân cũ.

Trong hai năm 1969 và 1970, gia đình tôi dọn lên ở trong khuôn viên nhà Linh Mục L. ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm Sài Gòn, để quản lý nhà in Hồng Lam của Linh Mục, lúc này Cha đã rời viện Đại Học Huế. Chị Như Hà và tôi đều có phần hùn trong công ty, nên chị thường lên thăm Cha L., thăm nhà in, và cũng thường ghé thăm gia đình tôi.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975, tôi mất liên lạc với chị Như Hà từ đó.

Đến năm 1982, các con trai tôi vượt biên qua được đảo Bidong, Mã Lai. Tình cờ, một người bà con của Linh Mục L. ở Sài Gòn cho tôi địa chỉ của Cha, hiện làm Cha chánh xứ ở Bỉ. Tôi viết thư, (ngoài phong bì chỉ đề tên Bác Cao vì chính phủ Cọng Sản lúc đó ghép tội Cha là người đầu độc văn hoá!)  và được thư trả lời của Cha, cho địa chỉ chị Như Hà ở Houston, Texas. Tôi thật vui mừng biết được tin của người bạn cũ, viết hai lá thư liên tiếp, trong tâm chỉ cốt để thăm hỏi, nhưng chẳng thấy hồi âm. Tôi chán nản và thầm trách chị đã quên tình bạn.

Năm 1984, tôi nhận được lá thư cuối cùng của Linh Mục L., gởi từ viện dưỡng lão Đồng Công ở Hoa Kỳ.

Năm 1985, một hôm tình cờ đi ngang qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi Linh mục L. ở trước đây, thấy một số giáo dân Nghệ Tĩnh đang làm lễ, tôi vào xem mới biết đó là lễ Misa, cầu hồn cho Cha L. đã mất ở Hoa Kỳ. Tôi đứng lặng người, tưởng niệm đến Cha, rồi về nhà báo tin buồn cho vợ tôi biết. Cả hai chúng tôi đều đau lòng, thương tiếc và khấn nguyện linh hồn Cha được sớm về nước Chúa.

Đến năm 1992, khi sang Canada do con tôi bão lãnh, qua vài người bạn ở Mỹ tôi mới hay chị Như Hà đã mất từ lâu, vì bịnh ung thư. Ngày được tin, tôi sửng sốt vì quá xúc động, và lúc đó tôi mới hiểu vì sao hai lá thư tôi gởi chị ngày trước đã không được hồi âm. Tôi không biết gì hơn là cầu nguyện cho linh hồn chị - một người bạn thân thiết cũ, người đã sẵn lòng giúp tôi nhiều lần trong ngày đầu gia đình tôi từ Huế đặt chân vào Sài Gòn, trong bước đầu kinh doanh – được yên nghĩ. Thân xác của chị bây giờ chắc đã hoà lẫn với đất cát của xứ nóng Texas, nhưng hình ảnh của chị, một người bạn tốt, vẫn sống mãi trong tâm trí tôi.

Tôi mong có ngày qua Houston, ghé thăm mộ phần của chị Như Hà, đặt một bó hoa, đốt một nén hương để tưởng nhớ đến chị.

Tôi cũng không quên gởi lời chân thành phân ưu đến chồng chị, anh Hoàng tấn H. cùng các cháu con của chị.

Toronto, ngày 27 tháng 3 năm 2001
Trần Trừu
(Uyên Minh)